Một người thầy nhàng nhàng chỉ nhân thức nói. Một người thầy giỏi biết giảng nghĩa. Người thầy xuất chúng biết minh họa. Và người thầy lớn lao nhân thức truyền cảm hứng.
Trong bộ phim kinh điển Hội cố thi nhân (Dead Poet Society) có một hình ảnh mang tính tượng trưng khác lạ: giáo viên Keating (do nam diễn viên kì cựu Robin Williams thủ vai) dạy ngữ văn, đã cổ vũ các em sinh viên xé hết bài giảng của sách giáo khoa.
Giữa ngôi trường Welton xuất chúng vốn nhiều người biết đến với tính kỉ luật, uy nghiêm và truyền thống; thầy Keating đã phá đổ vỡ những ước lệ cằn cỗi, chối từ việc dạy sinh viên “đo lường và đánh giá thơ ca như thể lắp ống nước”; mà cho học sinh được tự do sống trong những cảm xúc xinh xắn của tâm hồn, dùng sức mạnh của văn học để dẫn dắt các em đến những thuyết lí sống cao cả.
Đọc Đám cưới không có giấy hôn thú, thật thuận tiện để liên tưởng giáo viên Tự với hình ảnh thầy Keating: hai loài người đều mang theo những tranh chấp khắc nghiệt với không gian mà họ giảng dạy, và trên cái nền đó bức chân dung tâm hồn họ được rạng ngời.
Tuy rằng công trình này đi xa hơn một câu chuyện về việc dạy học – nhà văn Ma Văn Kháng chỉ lấy ngành giáo dục làm cho bức phông nền cho thị trấn hội sai lệch hiện nay, hình tượng “người đổi mới kiến trúc tâm hồn” vẫn khiến cho bất kì người đọc nào cảm động.
Giữa lúc giáo dục đang như cái ung nhọt đầy trái cựa – với những giáo viên kém trình độ như Hiệu trưởng Cẩm, kém nhân cách như cô giáo Thảnh, thì thầy giáo Trẫm mình giữ nguyên cho bản thân một sự mực thước đáng nể. Như lời mà nhà văn Ma Văn Kháng sử dụng để diễn đạt, Tự “mô phạm mà vẫn không mờ nhạt lòng nồng hậu, tinh thần triệt để", “khuôn phép mà vẫn thâm thúy, hồn hậu mà vẫn uyển chuyển, đa cảm mà vẫn rắn rỏi, không dễ uốn mình, cảm thông với mỗi sa sảy, yếu ớt của học sinh”.
![]() |
| Đám cưới không có giấy giá thú - cuốn tiểu thuyết tâm đầu ý hợp của nhà văn Ma Văn Kháng. |
Người ta cảm trước cái đẹp của người thầy giáo Tự, đầu tiên là bởi Tự có một sự kính trọng thuần khiết bỏ ra cho tri thức, cho nghề dạy chữ. Tự yêu nghề, bởi chỉ khi bước chân lên bục giảng ấy, đáp lại lời chào của học trò, anh mới thấy bản thân “không chạm mặt phải sự bội nghịch”, “thấy bản thân mình thật đẹp đẽ, hùng mạnh, cao niên”.
Tự tập viết hàng chữ cho thẳng, học thuộc một câu thơ để chứng dẫn, sưu tầm một danh ngôn, tra cứu một điển cố, chữa một câu văn sai, sửa một lỗi chính tả, như thể anh đặt từng chút, từng chút tâm tưởng vào công việc dạy học này. Trong khi Tự đã bén duyên với cái chữ, cái nghiệp này khởi đầu trong khoảng khi anh lọt lòng và mang cái chữ trong tên.
Và có nhẽ, chính cái tình yêu con chữ được tự phát hồn nhiên ấy trước học trò lại chính là cách thức giáo huấn hiệu quả nhất. Thế nên, dù có là nhì mươi năm sau, người học trò cũ của Tự tận còn biên thư cho thầy, thổn thức nỗi niềm mến trọng khi nhớ về những lời thơ thầy từng dạy. Tự là người đánh thức cái đẹp, cái xúc động, là người vẽ ra xác định phương hướng cho cuộc tìm kiếm phiên bản thân trong mỗi người học trò ngày đó.
Vượt lên trên cả những con chữ, trên cả thơ ca, vấn đề trị giá nhất mà Tự trao cho sinh viên của bản thân chính là những trị giá đạo đức mà nhân loại anh chính là một tấm gương trinh nguyên. Nếu như nhà trường là một thánh tuyến đường uy nghiêm, thì Tự là một sứ thần tận tụy, giữ giàng sự trong ngọc trắng ngà của những vong linh trẻ dại, để chúng không bao giờ sa vào mưu mẹo cám dỗ của ma quỷ và vấy bùn nơi trần thế.
Với Tự, dù có là con ông đồ tể vô học hay là nam nhi của Bí thơ thị ủy, Tự tận sẽ mạnh tay trừng trị những sinh viên hỗn láo, ngỗ ngược. Dẫu rằng hành động trừng trị ấy có làm Tự phải chịu cảnh ép uổng, nhưng cũng chính nhờ nó mà Tự trở thành hình ảnh của hoàn hảo, là siêu nhân trong mắt những đứa học trò.
Giả dụ như tới cuối bộ phim Hội cố thi nhân, những xuất sắc của thầy Keating cũng không thoát khỏi gọng kìm chuyên chế nhạo của nhà trường, buộc thầy phải thôi việc; thì giáo viên Tự cũng phải chật vật đi tìm chỗ đứng cho bản thân trong cái phường hội dị hình. Tự không chỉ rơi tham gia cái bi kịch “đời thừa”, mà còn bị hãm hại bởi những kẻ hèn đớn, cổ lỗ hủ - những kẻ không thể nào dung hòa được với cái đẹp trong loài người anh.
Thế nhưng, “đám cưới không có giá thú cũng vẫn thành”, tâm hồn anh vẫn sẽ đến được với tuyệt vời của đời anh. Và trái ngọt nhất của cuộc kết hôn ấy, chắc chắn là những người học trò – giờ đã là chưng sĩ, tiến sĩ, kỹ sư,… lịch lãm, thấm nhuần đạo lý của anh và nối dài nó.
Đám cưới không có giấy giá thú xây dựng thương hiệu vào những năm sau Giải phóng, trong khi những sự biến chuyển của thời cục cũng kéo theo rộng rãi sự xáo trộn về trị giá sống. Cũng giống như phổ thông công trình khác của Ma Văn Kháng, Đám cưới không có giấy giá thú chứa đầy những chiêm nghiệm nhân sinh, những nỗi niềm đau đáu của nhà văn về người yêu thế thái.
Nhưng nói về giáo dục, Ma Văn Kháng lần này đã đâm thẳng vào những khối u người ta thường lánh né, tới mức cuốn sách ở thời gian công bố liên tục được đưa ra bàn bạc, tranh biện. Có lẽ, bản thân cũng từng là một giáo viên, ông hẳn cũng đã ủ ấp nhiều tâm tư giống như Tự. Xây dựng nên một hình tượng người thầy đẹp như Tự, Ma Văn Kháng cũng đã làm cho người đọc phải thêm cảm phục ông, “người thay đổi kiến trúc tâm hồn” bằng con chữ.
Ma Văn Kháng, Hữu Thỉnh đối thoại về văn học hiện đạiTham gia ngày 9/12, tại trường Vinschool, những cây viết gạo cội như Ma Văn Kháng, Hữu Thỉnh, GS. Phong Lê sẽ cùng gặp bạn đọc và đàm đạo về nền văn học Việt Nam qua các thời kỳ. |
Sách Ma Văn Kháng Ma Văn Kháng Đám cưới không có giấy hôn thú hình ảnh người thầy văn học vietnam
Xem tại: maybomdandung

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét