Thứ Hai, 20 tháng 11, 2017

Tình bạn giữa 4 nhà giáo, nhà văn, học giả nổi tiếng

Học giả Nguyễn Hiến Lê ngại giao tiếp và rất ít bạn, nhưng có mấy người bạn thân là Đông Hồ, Giản Chi, Hư Chu. Cả bốn ông ngoài là nhà văn nổi tiếng, đều gắn bó với nghề giáo.

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), có biệt hiệu và bút danh là Lộc Đình, nguyên quán tại Quảng Oai, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Nội), là một nhà văn, học giả uyên thâm, uy tín.

Trong cuộc đời trên 40 năm cầm bút, ông đã cho ra đời khối lượng tác phẩm khổng lồ với trên 100 đầu sách, về số đông lĩnh vực: văn chương, ngôn ngữ, triết học, tiểu luận phê bình, giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân, du ký, dịch tiểu thuyết, học khiến cho người...

Nhà thơ Đông Hồ (Lâm Tấn Phác, 1906-1969) lớn hơn ông Lê 6 tuổi, học giả Giản Chi (Nguyễn Hữu Văn, 1904-2005) hơn ông Lê 8 tuổi, còn nhà văn Hư Chu (Nguyễn Kỳ Thụy, 1922-1972) bé xíu hơn ông Lê 10 tuổi.

Tuy Đông Hồ là người miền Nam (ông sinh trưởng ở Hà Tiên) nhưng trong khoảng gia phong đến giáo dục, bút pháp đều giống nhà Nho đất Bắc, nên ông Lê cảm thấy gần gụi, còn hai bạn người còn lại đều giống ông Lê, là người gốc miền Bắc tham gia sinh sống tại miền Nam.

Theo Nguyễn Hiến Lê, ba người bạn thân của ông có điểm chung là: "Cả ba bạn đó đều nhân thức chữ Hán, đều giữ được ít phổ thông phong cách nhà Nho. Bốn đồng đội tôi giao du với nhau, tình 'đạm nhược thuỷ' (đạm bạc như nước) tuy thân mà không vồn vã, rầm rĩ".

Đương nhiên, Nguyễn Hiến Lê lại có điểm đặc biệt với ba người bạn của mình: "Tôi xét chẳng hề là một nghệ sĩ, không có chút nghệ sĩ tính nào mà ba bạn thân của tôi đều là nghệ sĩ".

Tinh ban giua 4 nha giao, nha van, hoc gia noi tieng hinh anh 1
Sách Hồi ký Nguyễn Hiến Lê tiết lộ quãng thời gian dạy học của tác giả.

Nghề giáo của bốn nhà văn

Nếu như bạn nào đã đọc Hồi ký Nguyễn Hiến Lê sẽ nhân thức, dù ra trường trường Cao đẳng Công chính và có hơn 10 năm hành nghề thăm dò thủy lợi khắp miền Tây Nam Bộ, nhưng sau Cách mệnh tháng Tám, do tình cảnh đi di tản sống một bản thân, ông đã có một thời gian dạy học tại Long Xuyên, An Giang.

Nguyễn Hiến Lê bắt đầu dạy học tại gia, theo yêu cầu của ông thị xã trưởng Nguyễn Ngọc Thơ (người sau này là Phó Tổng thống, rồi Thủ tướng chính quyền VNCH) dạy kèm nhị môn Toán và Pháp văn cho con và cháu của ông ta, sau đó rộng rãi công chức chính quyền nhân thức tiếng cũng đưa con lại nhờ dạy.

"Tôi nổi tiếng dạy nhiều năm kinh nghiệm và đầu năm học sau số học sinh xin học rất đông, tôi chỉ kiếm được hai chục em thôi", ông Lê viết trong hồi ký.

Khi ông Thơ lên làm cho tỉnh trưởng Long Xuyên, ông mở trường Thoại Ngọc Hầu và mời Nguyễn Hiến Lê dạy thay một giáo viên khác được điều chuyển. Vì tình bạn với cả nhị người, nên ông Lê đã tham gia dạy các môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, sau dạy thêm cả Hán văn cho đa dạng lớp từ năm thứ Tư đến năm thứ Nhị (tương đương lớp 7-9 chương trình bây chừ). Ông dạy học tại đây trong 3 năm, trong khoảng 1950-1953.

Quan điểm giáo dục của Nguyễn Hiến Lê được ông biểu hiện rõ rệt: "Năm nào tôi cũng đề nghị với hiệu trưởng cho mỗi lớp dăm bảy sinh viên ở lại vì sức non quá, nhưng hiệu trưởng không nghe, có lẽ vì không muốn làm mất lòng phụ huynh. Tôi bất mãn vì điểm đó lắm, bảo như vậy trái với nguyên tắc sư phạm, trái với cả cái lợi của học sinh vì học mà không hiểu thì đã bị mất đi ngày giờ mà lại chán".

Nhà thơ Đông Hồ là một nhà thơ có tiếng trên văn bằng hữu trong khoảng cuối những năm 1920. Ông có cuộc đời hoạt động văn hóa sôi động, trong khoảng hợp tác với Nam Phong báo chí, xuất bạn dạng báo Sống ở Sài Gòn... Năm 1950, ông lên Sài Gòn lập nhà xuất bản Bốn Phương và nhà sách Yiễm Yiễm thư trang.

Đông Hồ nhập cuộc dạy học trong khoảng năm 1965, khi được mời đảm đương môn Văn học tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn và gắn bó với bục giảng cho đến tận phút cuối cuộc thế.

Nguyễn Hiến Lê ngợi ca: "Cái chết của ông thật đẹp: Đương ngâm thơ về Trưng Vương của Ngân Giang ở giảng trục đường Văn khoa thì đứt gân máu, té ngất xỉu trong cánh tay học sinh, hôn mê, đưa lại dưỡng tuyến đường rồi về nhà, bảy giờ tối tạ thế".

"Ông có truyền thống nhà Nho, chỉ thích dạy học, truyền lòng yêu tiếng Việt cho những tuổi teen khôi ngô", ông Lê viết về nhà thơ, tác giả thi phẩm Cô gái xuân.

Tinh ban giua 4 nha giao, nha van, hoc gia noi tieng hinh anh 2
Thầy Giản Chi (giữa) cùng học sinh Đại học Văn khoa Huế.

Giải Chi - Nguyễn Hữu Văn có đa dạng điểm bình thường với Nguyễn Hiến Lê hơn. Ông quê gốc ở làng Hạ Im Quyết (làng Cót, Cầu Giấy, Hà Nội hiện thời) cũng tốt nghiệp Cao đẳng Công chính Thủ đô và sống thế cuộc công chức lĩnh vực bưu điện rong ruổi khắp đa dạng địa phương như Sơn La, Lai Châu, Hải Dương, sau đó là miền Nam.

Dĩ nhiên, từ năm 1965, ông gắn bó với nghề dạy học, khi tham gia giảng dạy triết học cổ lỗ Trung Hoa và văn chương Hán Nôm Việt Nam tại các trường Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn), Đại học Huế. Mãi đến năm 1977, khi đã 74 tuổi, ông mới nghỉ hưu.

Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê là tác giả thông thường của một vài cuốn sách phân tích giá trị như Đại cương triết học TQuốc, Hàn Phi Tử, Tuân Tử và cùng dịch Chiến quốc sách.

Năm 1953 lên Sài Gòn Nguyến Hiến Lê mới chạm mặt mặt nhà văn Hư Chu. Hư Chu sinh năm 1923 ở làng Hành Thiện (Nam Định), một làng nhiều người biết đến về học hành, đỗ đạt. Là con một cụ cử, Hư Chu sớm thôi học chữ Pháp, về quê học thêm chữ Hán rồi phiêu lưu, làm khá phổ thông nghề: sắm sửa, nuôi gà, thư ký, thầu rừng, dạy học, chế trà, nghề nào cũng thất bại. Năm 1950, ông mới vào Sài Gòn thử nghề cầm bút, viết truyện “feuilleton” cho tờ Việt Thanh và dần nức tiếng.

Khi tờ Việt Thanh đình bạn dạng, ông bần hàn mà vẫn vui. Trong khoảng năm 1955, ông dạy Sử Địa cho vài trường trung học tư ở Sài Gòn, đời sống ông từ đó mới bắt đầu ung dung hơn.

Nguyễn Hiến Lê kiếm được xét: "Ông thích dạy học, được học trò và đồng đội mến vì tính tình nhân hậu, nhã, thành thực".

Tình tri kỷ của các nhà văn hóa

Với Đông Hồ, mỗi khi viết được bài nào khoái trá thì thi sĩ lựa hai bạn dạng in riêng, đích thân ông sửa lỗi in rồi đóng lại thành tập mỏng mảnh, đóng dấu son “Đông Thuỷ cũ kĩ nguyệt” (tức Đông Hồ: chữ Hồ gồm ba chữ thuỷ, cổ và nguyệt), rồi gửi cho Nguyễn Hiến Lê nhị bạn dạng, một bản để tham gia tủ sách của ông ở Long Xuyên, một tham gia tủ sách Sài Gòn.

Đọc văn Nguyễn Hiến Lê, thấy cuốn nào, bài nào vừa ý thì ông lại thăm hoặc viết thư ca ngợi vài lời thực tình.

Khi nghe tin Đông Hồ tắt thở (25/3/1969), Nguyễn Hiến Lê về nhà viết ngay bài Khóc bác Đông Hồ. Bài đó đăng kịp trên báo Bách Khoa số 1/4/69. Sau đó, Nguyễn Hiến Lê còn viết gần như 4 bài nữa về người bạn chính mình. Đa số những bài đó đều nhắc đến sự nghiệp văn thơ của ông.

Tinh ban giua 4 nha giao, nha van, hoc gia noi tieng hinh anh 3
Thi sĩ Đông Hồ.

Dù Đông Hồ yêu mến dạy học, nhưng ông lại khuyên Nguyễn Hiến Lê chỉ nên tập trung tham gia viết lách, không quay lại với nghề giáo. Trong một cuốn Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê viết về Đông Hồ: "Tôi cũng nhận ông là tri kỷ của tôi khi ông nghe tin người ta mời dạy đại học Văn khoa Sài Gòn, ông hối hả sáng sớm trong khoảng trong Gia Định lại nhà tôi để khuyên tôi đừng nhận dạy vì mất ngày giờ lắm".

Hư Chu chơi thân với Nguyễn Hiến Lê ngay sau khi ông Lê lên Sài Gòn, năm 1954 khi ông Lê thành lập nhà xuất bản, Hư Chu là người lái chiếc xe máy dầu Peugeot đưa ông Lê đến các nhà in, cùng giao sách, thu tiền, sửa ấn cảo… "Có lời, chúng tôi chia nhau để sống", Nguyễn Hiến Lê nhớ lại.

Tuy nhì người rất quý mến nhau, nhưng trong khoảng khi Hư Chu bắt đầu dạy học, ông và ông Lê mỗi năm chỉ gặp gỡ nhau một vài lần.

Khi Hư Chu mất lúc mới 50 tuổi, Nguyễn Hiến Lê cũng có bài viết đã đánh dấu sự nghiệp của ông mang tựa đề Hư Chu đăng trên tạp chí Bách Khoa số 392, bốn tuần 6/1973. Bài viết "ngắn mà đầy đủ, các bạn văn cho là cảm động".

Với học giả Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê đánh giá về buộc phải cùng viết bộ Đại cương triết học China như sau: "Nhờ có ông tôi mới khỏe khoắn bước vào lĩnh vực cũ rích học China, và nhờ tôi có thúc đẩy từ đó ông mới sáng tác mạnh. Thực là một duyên tiền định có nhẽ chưa hề thấy trong văn chương sử quốc gia từ đầu thế kỉ tới nay". Cuốn Thượng bộ Đại cương triết học Trung Quốc của hai ông được chính quyền Sài Gòn dự định trao giải thưởng quốc gia, nhưng các ông khước từ nhận giải.

Nguyễn Hiến Lê cũng coi Giản Chi là bạn tương tri. Khi có người bàn với Giản Chi về việc trưng bày ông Lê nhận giải Tuyên dương tương lai Văn học năm 1973 của chính quyền VNCH, hiểu bạn, Giản Chi gạt đi, khẳng định: “Bác bỏ ấy không chịu đâu, đừng trưng bày”.

Nguyễn Hiến Lê đúc kết về tình bạn của bốn người trong Đời viết văn của tôi: "Mới quen thì chỉ kính nhau thôi, lần lần càng hiểu nhau thì càng quý mến nhau hơn, mặc dầu có khi một vài bốn tuần mới lại thăm nhau một lần. Gặp mặt nhau chúng tôi thì thầm về văn thơ phổ biến nhất, rất ít khi tâm tư về chuyện riêng. Mỗi người có một lối sống riêng, những sở thích riêng, chúng tôi nhân thức tôn trọng những cái đó của nhau. Nếu như thấy thật cần phải khuyên nhau một lời thì chỉ nói phớt qua, mà giả dụ bạn không nghe thôi. Tôi nghĩ miễn thành thực với nhau và giữ được tư cách là đủ, không những thế không cần biết đến".

Ngày 20/11 Nhà giáo Nhà văn Nguyễn Hiến Lê Giản Chi Hư Chu Đông Hồ


Đọc thêm: maybomtuoitieu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét