Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016

Ông tổ nghề thêu Lê Công Hành và chuyện đi sứ phương Bắc

Trong một lần đi sứ và bị triều đình phương Bắc dồn tham gia thế khó để thử tài, Lê Công Hành đã học được phương pháp làm lọng, kỹ thuật thêu rồi về truyền dạy cho mọi người.

Lê Công Hành tên khai sinh là È cổ Quốc Khái. Ông sinh năm Bính Ngọ (1606) tại phố Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh giấc Hà Đông (nay là quận Thường Tín, Thủ đô).

Chuyện kể rằng hồi còn nhỏ nhắn, cậu gầy Khái đã rất ham học. Cậu học cả khi đốn củi, lúc kéo vó tôm. Tối tới, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng đọc sách. Khái học tới đâu thuộc đến đấy và nhiều người biết đến hay chữ một vùng.

Năm 18 tuổi, bạn teen trai tráng trong làng đều bị lý dịch bắt đi phu đắp đê sông Hồng. Vì sức yếu không vác nổi những hòn đất to, Khái bị phạt, phải chôn chân ở mặt đê từ sáng đến trưa.

Giữa lúc đó, viên quan coi đê đi qua thấy một bạn teen mặt mũi khôi ngô, lấy khiến lạ nên dừng chân hỏi: “Ngươi bị tội gì mà mà phải chôn chân?”.

Khái lễ độ thưa: “Tôi là học trò, không vác nổi những hòn đất đá to nên bị phạt”.

Viên quan cũng có chút chữ nghĩa, liền cười nói: “Ngươi là học sinh à? Ta ra một vế đối, đối được thì ta tha cho”. Khái gật đầu xin vâng.

Viên quan liền đọc: "Ông quan thị, cắm con đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy". 

Vế ra khá éo le, có tên bốn thứ quả gồm thị, chuối tiêu, hồng và quả cậy. Khái ứng khẩu đối lại ngay: "Trai Quất Động, thi đỗ bảng nhãn, phù quân vương, phỉ chí mới cam". Vế đối lại cũng đủ bốn thứ quả quýt, nhãn, bồ quân và cam.

Nghe dứt viên quan gật đầu ca ngợi ngợi, cho về. Từ đấy, Khái càng nhiều người biết đến hay chữ.

Sau đó, Trần Quốc Khái lều chiếu đi thi và đỗ tiến sĩ đời vua Lê Chân Tông, đảm nhiệm quan to trong triều đình nhà Lê.

Ong to nghe theu Le Cong Hanh va chuyen di su phuong Bac hinh anh 1
Ông tổ nghề thêu Lê Công Hành. Nguồn: Thư viện lịch sử

Học nghề từ lần đi sứ phương Bắc

Năm Bính Tuất (1646), ông được cử đi sứ nhà Minh. Để thử tài sứ giả nước Nam, quan quân nhà Minh không dẫn ông đi đường chính mà lại dẫn theo đường tắt.

Đến một vùng rừng núi và thung lũng thì hết lương ăn, ông bèn cho chặt tre, đan thành những cái dậm, sai bầy tớ xuống suối kiếm cá và lên rừng mua bánh kẹo. Nhờ vậy, đoàn sứ bộ của ta vượt lên quãng tuyến phố rừng núi mà vẫn mạnh mẽ như không.

Sau khi hoàn thành công việc ngoại giao, vua Minh muốn thử tài trí của sứ giả một lần nữa, bèn sai dựng một cái lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi.

Nai lưng Quốc Khái vừa lên đến nơi, quân Minh dưới đất cất thang đi. Ở trên lầu suốt một ngày, ông chẳng thấy ai đem cơm cháo đến.

Đưa mắt nhìn quành, ông chỉ thấy có cái bàn độc. Trước bàn thờ, hai cái lọng xanh, đỏ trông rất đẹp; trên cao treo bức nghi môn diềm màn thêu rồng phượng và nổi 3 chữ “Phật tại tâm” (Phật ở trong lòng).

Ông Phật Di lặc, bụng to, sơn đen được đặt giữa bệ bàn thờ. Dưới chân bệ, một cái chum to đựng nước cúng và trong góc dựng nhì cây tre, một con dao, hoàn toàn không có quà bánh.

Một ngày trôi qua, bụng đói mà không có cơm ăn, chỉ có chum nước, ông nghĩ có nước uống tất phải có cái ăn. Quay ra ngắm bức tượng, tìm hiểu xem thử xem nó làm cho bằng gì, ông lấy móng tay cậy vào lưng Phật thì thấy bật ra một mảng con, lấy tay bóp vụn ra được như bột.

Ông đưa lên miệng nhấm thử thì thấy ngọt, hóa ra tượng khiến từ bột bánh khảo (có tài liệu nói rằng tượng nặn bằng bột chè lam). Từ đó ngày nhị bữa, ông cứ bẻ dần tượng Phật mà ăn.

Ngồi dưng bi ai quá, È Quốc Khái bèn chẻ tre, vót nan, quan sát kỹ cách thức làm lọng và nhập tâm các cụ thể. Khi đã nhân thức cách làm lọng rồi, ông lại hạ bức trướng xuống, tháo dỡ các tuyến phố chỉ kim tuyến xem cách thức thêu, rồi lại sử dụng chỉ đó thêu tham gia. Lúc hoàn tất, ông ngắm nghía thấy nét chữ thêu đồng nhất như cũ.

Ong to nghe theu Le Cong Hanh va chuyen di su phuong Bac hinh anh 2
Một nghệ nhân thêu cờ phướn. Nguồn: Mystown.com

Ăn hết pho tượng và uống gần hết chum nước, Trằn Quốc Khái sắm phương pháp xuống. Buổi chiều ngồi ngắm trời mây, thấy những con dơi xòe cánh chao đi chao lại như chiếc lá, ông nghĩ tới hai cái lọng cắm trên lầu, rồi ôm lọng dancing xuống đất an toàn vô sự.

Trước tài trí xử sự linh hoạt của sứ giả Đại Việt, triều đình nhà Minh cực kì kính phục, bày tiệc lớn tống biệt đoàn sứ về nước.

Bằng sự tài trí và ứng xử ngoại giao không ngoan, sau khi về nước, Nai lưng Quốc Khái được phong tước, thăng lên chức Công bộ thượng thanh thoát bảo, được đổi họ Lê nên mới có tên khác nữa là Lê Công Hành.

Truyền nghề cho dân

Ít lâu sau, Lê Công Hành đem nghề thêu dạy cho dân làng Quất Động rồi sau đó phát triển rộng ra các tỉnh khác, sang cả Bắc Ninh, Hưng Yên ổn.

Bên cạnh đó, ông cũng dạy lại bí quyết khiến cho lọng cho người dân. Để ghi nhớ công ơn ông, sau khi Lê Công Hành mất (năm 1661), quần chúng trong vùng đã lập đền thờ và tôn ông là ông tổ nghề thêu.

Vài tài liệu nghĩ là trước khi Lê Công hành truyền dạy nghề thêu và khiến cho lọng cho quần chúng, những nghề này đã tồn tại ở nước ta. Đương nhiên, nó sản xuất gầy lẻ, kỹ thuật khá đơn sơ, nói quanh nói quẩn luẩn quẩn với vài màu chỉ và chủ công phục vụ cho vua quan.

Sử sách cũ còn khắc ghi ở đời Nai lưng, vua quan ta đã dùng đồ thêu và lọng. Năm 1289, trước năm đi sứ của Lê Công Hành khoảng hơn 350 năm, vua È đã gửi tặng vua Nguyễn một đệm vóc đỏ thêu chỉ vàng, một tấm thảm gấm viền nhiễu (theo Từ Minh Thiện viết trong tập Thiên nam hành ký).

Tam nguyên trạng nguyên dạy dân dệt chiếu

Phạm Đôn Lễ là người đỗ đầu cả 3 kỳ thi trong lịch sử khoa cử nước ta. Nhờ có công truyền kỹ thuật dệt chiếu, ông được người dân mến mộ và tôn xưng Trạng Chiếu.

ông tổ nghề thêu ông tổ nghề thêu Lê Công Hành Lê Công Hành chuyện đi sứ phương bắc Trằn Quốc Khái


Tham khảo thêm: máy bơm tưới tiêu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét